*:not(:last-child)]:dt-mb-6">
Lời tòa soạn:
Trong công cuộc giành độc lập, tự do của dân tộc, mỗi chiến công oanh liệt đều được viết nên bằng máu, mồ hôi và trí tuệ của những con người Việt Nam bình dị mà vĩ đại.
Từ chiếc xe đạp thồ huyền thoại đến các sáng chế vũ khí, thiết bị và giải pháp hậu cần đầy sáng tạo, mang đậm tinh thần Việt Nam, tất cả đã góp phần làm nên thế trận nhân dân.
TinCongNghe trân trọng giới thiệu tới độc giả tuyến bài “Những sáng chế góp nên độc lập”, nhằm tôn vinh tinh thần sáng tạo không ngừng nghỉ của người Việt, tỏa sáng trong những điều kiện ngặt nghèo nhất.
Xin trân trọng cảm ơn Trung tá, Tiến sĩ Trần Hữu Huy, Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam đã đồng hành cùng chương trình.
Danh tướng Cao Thắng sinh ra trong một gia đình nông dân ở Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Xuất thân trong hoàn cảnh khó khăn, từ nhỏ ông đã quen với lao động sản xuất và nhịp sống vất vả của người dân miền núi.
Dù không đi theo con đường khoa cử như nhiều sĩ phu đương thời, Cao Thắng nổi bật với tư chất thông minh, nhanh nhạy và tinh thần nghĩa hiệp.
Trước bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, đời sống nhân dân lầm than, ông sớm trỗi dậy lòng yêu nước và ý chí chống ngoại xâm.
Ban đầu Cao Thắng tham gia các toán nghĩa quân địa phương rồi nhanh chóng gia nhập khởi nghĩa Hương Khê và trở thành cộng sự đắc lực của Phan Đình Phùng.
Xuất thân từ nông dân giúp Cao Thắng hiểu rõ đời sống quần chúng, từ đó xây dựng lực lượng nghĩa quân gắn bó mật thiết với nhân dân.
Một trong những đóng góp nổi bật của Cao Thắng là lĩnh vực nghiên cứu và chế tạo vũ khí. Ông thu thập súng của quân Pháp, tháo rời để nghiên cứu cấu tạo và mô phỏng sản xuất súng kiểu Gras 1874.
Dưới sự chỉ huy của ông, nghĩa quân đã chế tạo được hàng trăm khẩu súng hiện đại trong điều kiện thiếu thốn, nâng cao đáng kể sức chiến đấu và thu hẹp khoảng cách trang bị với quân địch.
Các khẩu súng do Cao Thắng chế tạo có cấu trúc tương đồng với nguyên mẫu, bao gồm khóa nòng, kim hỏa, cơ chế điểm hỏa và hệ thống đạn kim loại.
Tuy nhiên, do hạn chế về công nghệ luyện kim, nòng súng chưa có rãnh xoắn, lò xo chưa đạt độ đàn hồi tối ưu, dẫn đến tầm bắn và độ chính xác hạn chế so với bản gốc.
Dù vậy, đây vẫn là bước tiến quan trọng trong kỹ thuật quân sự, thể hiện tinh thần tự lực sáng tạo của người Việt cuối thế kỷ XIX.
Súng do Cao Thắng chế tạo nhanh chóng được biên chế cho nghĩa quân Hương Khê, vừa cổ vũ tinh thần, vừa nâng cao hiệu quả chiến đấu.
Nhiều trận phục kích đoàn quân Pháp, tập kích đồn nhỏ hay các chiến thuật đánh nhanh, rút gọn đều ghi nhận thành công với loại vũ khí này, khiến quân Pháp bị động và hoang mang.
' %2F%3E%3C%2Fsvg%3E)
Ngay cả các sĩ quan Pháp cũng phải thừa nhận, súng của nghĩa quân Cao Thắng rất giống súng trường Gras 1874. Khi chứng kiến trực tiếp, họ không khỏi sửng sốt trước khả năng chế tạo vũ khí tinh vi trong điều kiện thiếu thốn, khẳng định năng lực tổ chức, tư duy kỹ thuật và trình độ thủ công của người Việt lúc bấy giờ.
Danh tướng Cao Thắng và khởi nghĩa Hương Khê
Danh tướng Cao Thắng được mệnh danh là ông tổ của ngành quân giới Việt Nam, sinh năm 1864 trong một gia đình nông dân tại huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh).
Từ nhỏ, ông đã sớm bộc lộ chí khí anh hùng, năm lên 10 tuổi, Cao Thắng gia nhập nghĩa quân Cờ Vàng kháng Pháp. Một thời gian sau khi nghĩa quân tan rã, ông trở về quê, tiếp tục cuộc sống làm ruộng và mất năm 1893.
Cuộc khởi nghĩa Hương Khê (1885-1896) do Phan Đình Phùng và Cao Thắng lãnh đạo đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử dân tộc. Căn cứ chính của nghĩa quân được đặt tại Hương Khê (Hà Tĩnh). Hoạt động của nghĩa quân trải rộng trên địa bàn bốn tỉnh miền Trung: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình.
Sau khi chủ tướng Phan Đình Phùng hy sinh năm 1895, cuộc khởi nghĩa vẫn được duy trì một thời gian nhưng cuối cùng cũng phải chịu thất bại, đánh dấu sự tan rã của một phong trào yêu nước đầy hào hùng.